Home >> Giá cả thị trường >> Giá các mặt hàng nông sản (Từ ngày 2014/09/05 -15/05/2014)
Sàn giao dịch TMĐT Thitruongnongnghiep.vn

Giá các mặt hàng nông sản (Từ ngày 2014/09/05 -15/05/2014)

Diễn biến giá tất cả các mặt hàng nông, thuỷ sản và vật tư nông nghiệp tuần 19 năm 2014 (Từ ngày 2014/09/05 -15/05/2014)

Khoai lang tím nhật đang giảm vì tiêu thụ khó. Chôm chôm các loại giảm giá vì thị trường tiêu thụ chậm. Heo hơi, gà công nghiệp tiếp tục tăng giá vì được người tiêu dùng ưa Chương. Dừa Khô giảm nhẹ vì lượng thu mua từ Phía Bến Tre giảm. Nhãn tiêu da bò tiếp tục tăng giá vì diện tích trồng nhãn ngày càng giảm sút làm bệnh chổi rồng.

– Trái cây: cam Sành, chôm chôm các loại giảm giá

Và tuần rồi thì giá chôm chôm các loại tại Bình Hòa Phước đang giảm mạnh từ 6.000-10.000đ / kg mỗi loại. Theo nhiều nông dân trồng chôm chôm nơi đây cho biết: mặc dù lượng chôm chôm thu hoạch không nhiều nhưng thương lái hữu gặp tại hàng không đủ chuyến đi được giảm giá mua xuống. Mặc khác các vấn đề bất ổn trên biển đông gần đây góp phần giảm mạnh lượng xuất khẩu qua Trung Quốc. Hiện tại giá chôm chôm Java được Thương lái Mưa đã giảm -6.000đ / kg xuống còn 11.000đ / kg. Còn chôm chôm đường chỉ còn 22.000đ / kg, giảm -10.000đ / kg.

Gần đây, một diện tích lớn trồng nhãn da bò tại huyện Long Hồ bị Đốn bỏ và trồng thay thế loại cây khác làm chịu ảnh hưởng nặng từ dịch chổi rồng tấn công trong việc dập dịch tốn nhiều thời gian, chi phí nhưng hiệu quả kém , nên nông dân bị chán nản. Cũng vì thế mà giá nhãn trong mấy tuần nay tăng lên làm lượng trái không còn nhiều, trong thời gian trước giá nhãn chỉ dao động từ 10.000-12.000đ / kg thì gần đây đã được Augmented liên tục và giá hiện tại 18.000đ / kg.
Giá dừa khô trong vòng 1 tháng trở lại đây tại Vũng Liêm liên tục ổn định giá 6.300đ / trái thì tuần có giảm xuống mức 6.000đ / trái như trước khi nó. Nguyên nhân là Phía tỉnh Bến Tre giảm mạnh lượng thu mua dừa khô trong huyện.

Cùng cảnh như dừa khô, cam Sành trong 1 tháng nay Có giá tăng dần và giữ mức cao, đến nay cam Sành giảm 2.000đ / kg mỗi loại. Hiện tại, cam Sành loại 1 tại Tam Bình có giá 24.000đ / kg, loại 2 cho 20.000đ / kg và sô là 22.000đ / kg.

Trong đó sầu riêng cơm vàng hạt lép tại Long Hồ giảm 2.000đ / kg, hiện chỉ còn 30.000đ / kg. Tại Tiền Giang, giá các loại sầu riêng đồng loat giảm giá. Cụ thể, sầu riêng Monthong, Ri6 trước đây được thương lái mua tại vườn trên 30.000đ / kg thì nay bất ngờ giảm, hiện sầu riêng Monthong chỉ còn 22.000đ / kg, còn sầu riêng Ri6 còn 20.000đ / kg.

Các loại trái cây khác Có giá ổn định: dừa tươi: 9.000đ / trái, bưởi 5 Roi loại 1: 40.000đ / kg, loại 2 :. 30.000đ / kg
Gần đây nhiều loại trái cây tại nhiều nơi thuộc TP HCM như xoài cát Hòa Lộc, bưởi năm roi, cam Sành … đang giảm giá xuống khá thấp, thậm chí giảm đi 50% so với năm ngoai, làm vào vụ thu hoạch ro cộng thêm cước vận tải tăng là tất cả làm cho nhà vườn bị thương lái ép giá để bù vận chuyển. Cụ thể, giá xoài cát Hòa Lộc từ mức 60.000-70.000đ / kg trước đây chỉ còn chỉ còn 30.000-35.000đ / kg; bưởi Năm Roi tu 35.000-45.000đ / kg, xuống rớt dưới 30.000đ / kg …

– Rau màu: khoai lang tím giảm giá

Tại HTX RAT Thành Lợi, giá các loại rau màu sẽ tăng so với tuần qua. Theo ông Lê Văn Trung – chủ nhiệm HTX cho biết thêm, tuy dưa leo là loại duy nhất tăng lên 500đ / kg nhưng với thời điểm cách đây 2 tuần thì dưa leo là loại màu được Già đang có xu hướng giảm, nguyên nhân là nhất dưa leo trong HTX sắp tàn được với mẫu mã và hình thức kém được Gia giảm bớt. Các loại màu khác ổn định giá: cải ngọt: 5.500đ / kg, rau Muống: 4.000đ / kg, hành lá: 8.500đ / kg, xà lách: 6.000đ / kg, riêng dưa leo giá hiện tại 5.500đ / kg ( + 500đ / kg).

Khoai lang tím Nhật trong 3 tuần nay liên tục giảm, vs tuần rồi thì khoai giảm mạnh -100.000đ / tạ, làm ở đây là thời điểm thu hoạch rộ cộng thêm việc người trồng sợ bị đình chỉ thu mua được dở ro và bị thương lái ép giá. Hàng loat hộ trồng khoai lang xuat khau ra Vĩnh Long, Đồng Tháp … đang khóc ròng vì giá khoai lang tím Nhật rớt thê thảm. Thời điểm tháng 3/2014, giá khoai lang tím Nhật dao động từ 800.000-860.000đ / tạ, thì nay rớt chỉ còn 350.000-360.000đ / tạ. Ông Huỳnh Văn Quân, Phó chủ nhiệm HTX khoai lang Tân Thành, huyện Bình Tân cho biết, mặc dù giá giảm mạnh nhưng thị trường Trung Quốc giữ lại tiêu thụ khoai lang bình thường, nhưng kén hàng hơn trước. Còn các loại khoai khác có giá: khoai trắng giấy: 350.000đ / tạ, riêng khoai sữa đã già tăng cao + 90.000đ / tạ lên mức hiện tại là 320.000đ / tạ.

Các loại màu khác Có giá ổn định: xà lách xoong: 25.000đ / kg, rơm nấm: 50.000-60.000đ / kg và dưa hấu: 8.000đ / kg.

– Sản phẩm chăn nuôi: heo hơi, gà công nghiệp giá Augmented

Giá heo hơi tại nhiều địa phương vùng ĐBSCL hiện Augmented thêm trống 1.000-3.000đ / kg so nay cách hơn 2 tuần. Tại TP Cần Thơ và nhiều tỉnh như Hậu Giang, Vĩnh Long … heo hơi loại tốt đang ở mức 53.000-54.000đ / kg; tại Bến Tre, Tiền Giang và Long An heo hơi giá tới 54.000-55.000đ / kg, đây là mức giá cao nhất trong nhiều tháng qua. Theo nhiều doanh nghiệp và tiểu thương kinh doanh thịt heo, giá heo hơi nhích lên làm chi gần đây phí đầu vào phục vụ chăn nuôi heo tiếp tục Augmented cao, trong khi đó nguồn cung heo giảm vs trước làm nhiều hộ nuôi heo bị lỗ là nghỉ nuôi; đàn heo tại một số phương địa giảm làm ảnh hưởng dịch bệnh. Ngoài ra, thời gian qua làm ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, người tiêu dùng đã xu hướng chuyển sang sử dụng thịt heo.

Giá gà công nghiệp trong 3 tuần nay liên tục tăng làm sức tiêu thụ mạnh Augmented chống lại loại thịt này, từ 32.000đ cấp / kg ra tuần trước thì nay mức lên tăng 34.000đ / kg.

Vịt xiêm giảm nhẹ -1.000đ / kg, hiện tại giá 54.000đ / kg.

Trong khi đó tất cả các sản phẩm chăn nuôi khác ổn định giá: gà ta: 85.000đ / kg, heo giống: 100.000đ / kg, bò hơi: 50.000đ / kg, vịt thịt: 38.000đ / kg.

Thị trường Phía Nam những ngày qua bất ngờ thiếu hụt nguồn cung thịt heo làm nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng mạnh trong thời gian dịch cúm gia cầm xảy ra và việc heo hơi được nhiều thương lái thu gom xuất đi Campuchia phục vụ lễ hội . Trước đó, nhiều người nuôi heo thua lỗ được đà “treo chuồng” làm ảnh hưởng đến nguồn cung trên thị trường.

– Thủy sản: các loại thủy sản ổn định giá

Giá các loại thủy sản ổn định như tuần qua: cá tra: 25.500đ / kg, rô phi: 18.000đ / kg và điêu hồng: 34.000đ / kg.

Tình hình xuất khẩu phục hồi, giá cá tra nguyên liệu Augmented trở lại hơn một tháng qua, nhưng người nuôi tại ĐBSCL không đập đầu tư khôi phục sản xuất. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp & PTNT, đến cuối tháng 4/2014, diện tích, sản lượng cá tra ra nhiều tỉnh ĐBSCL tiếp tục giảm so với cùng kỳ: tại Vĩnh Long, diện tích nuôi đạt 419 ha như sản Lương 30.400 tấn , lượt lần giảm 3,6% về diện tích và 27,8% về sản lượng so với cùng kỳ năm ngoài; tại An Giang diện tích nuôi giảm 38,9% (đạt 476 ha), sản lượng thu hoạch giảm 30,8% (đạt 45.689 tấn) so cùng kỳ năm 2013 … Theo ông Nguyễn Ngọc Hải, Chủ nhiệm HTX nuôi cá tra Thới An, quận Ô Môn, TP. Cần Thơ cho biết nguyên nhân một phần Lâm những hộ nuôi nhỏ thua lỗ trước đây đã hét Cap tái đầu tư sản xuất, còn là những hộ có khả năng Thị cho rằng đợt Augmented giá lần này lại chưa bền vững là chưa dám thả nuôi. Còn theo ông Nguyễn Hữu Nguyên, Chủ nhiệm HTX nuôi cá tra huyện Châu Phú, An Giang giải thích, chủ trương cho vay ưu đãi với lãi suất 8% / năm lại chưa đến Tây người nông dân được họ không tiep cận được nguồn Cap Đầu tư thả nuôi trở lại.

– Lúa Đông Xuân Augmented nhẹ

Tuần qua, giá lúa Đông Xuân trong tỉnh ổn định mức dao động từ 4.800-5.000đ / kg còn lúa Hè Thu tươi Có giá 4.500đ / kg. Trong đó, tại Bình Tân lúa Hè Thu có giá 4.800đ / kg, Trà Ôn với 4.500đ / kg.

Giá lúa khô tại kho khu vực ĐBSCL loại thường dao động từ 5,250-5,350 đ / kg, lúa dài trống 5,550-5,650 đ / kg. Giá gạo nguyên liệu loại 1 làm ra gạo 5% tấm hiện trống 6,800-6,900 đ / kg tùy từng địa phương, gạo nguyên liệu làm ra gạo 25% tấm là 6,600-6,700 đ / kg tùy chất lượng và địa phương. Giá gạo thành phẩm 5% tấm không bao bì tại mạn hiện trống 7,950-8,050 đ / kg, Gạo 15% tấm 7,650-7,750 đ / kg và Gạo 25% tấm trống 7,350-7,450 đ / kg tùy chất lượng và địa phương.

– Phân bón các loại sẽ stable

Sáu lần biến động giá cả ra loại phân bón trong tuần rồi, đến nay tất cả các loại all sẽ ổn định giá: ure Phú Mỹ: 8.200đ / kg, NPK (20-20-15): 13.400đ / kg, NPK (16 -16-8): 10.600đ / kg, DAP: 13.400đ / kg, Kali: 9.200đ / kg.

Theo Vụ trưởng Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công thương), vụ Hè Thu SAP bắt đầu Các Tỉnh Phía Nam và hiển thị các miền tỉnh Trung Tây Nguyên giữ lại cần phân bón cho cây công nghiệp, nên nhu cầu phân bón thời gian để sẽ tăng lên. Tuy nhiên, làm giá phân bón trên thị trường thế giới đang giảm, nguồn cung từ các nhà cung cấp lớn như Trung Quốc, Trung Đông lại khá dồi dào là giá phân bón trong nước thời gian tới sẽ trên định.

 

 

About admin